Cơ BảnHồ Thủy Sinh

Ánh Sáng Hồ Thủy Sinh, Những Điều Cẩn Biết

Hôm nay chúng tôi xin được giải thích cho các bạn ánh sáng có tầm quan trọng như thế nào và nên chọn những loại đèn nào có thể chơi đc thủy sinh
4034
Ánh Sáng Hồ Thủy Sinh, Những Điều Cẩn Biết

Ánh sáng là thành phần rất quan trọng trong quá trình quang hợp! Ánh sáng không tham gia trực tiếp vào quá trình quang hợp mà lại là chất xúc tác giúp diệp lục biến các thành phần hữu cơ trong đất hoặc CO2 trong nước thành các mạch carbon giúp cho cây sinh lớn lên! Trong quá trình này cây sẽ tạo ra O2 (oxi) hiện tượng này “dân thủy sinh” hay gọi là cây thở. Vào lúc tắt đèn thì xảy ra quá trình hô hấp của cây: quá trình này sẽ cần O2 để phản ứng! chức năng của quá trình này giúp cho cây tạo ra nhưng chất cần thiết và tạo ra tính cần bằng  giúp cây chuẩn bị cho quá trình Quang Hợp lúc mở đèn! Vì vậy ánh sáng là một phần không thể thiếu trong một bể thủy sinh!

Trước khi đi vào chi tiết, chúng ta sẽ tìm hiểu các thuật ngữ cơ bản về ánh sáng cho hồ thủy sinh.

1. Watt

Watt là đơn vị cho biết mức tiêu thụ năng lượng điện của đèn fluorescent (neon, huỳnh quang). Theo cách hiểu thông thường, thì loại đèn có mức Watt càng cao thì càng phát sáng hơn loại đèn có mức watt thấp hơn. Nhưng không phải lúc nào cũng đúng. Vì mỗi loại đèn lại có hiệu quả hoạt động không giống nhau. Ví dụ như đèn neon, lọai tiết kiệm điện (ống T8)- loại này có mức watt nhỏ hơn đèn neon bình thường (ống T12)- nhưng vẫn có thể phát sáng hơn các lọai khác. Đèn neon tiêu thụ điện năng để phát ra được ánh sáng khoảng 10%. Trong khi đèn Metal Halide phát ra được khoảng 18% phần còn lại sẽ phát ra tia UV (mắt thường của người nhìn không thấy) và nhiệt độ nóng…

Thông thừng chúng ta sẽ sử dụng mức Watt là điều kiện đầu tiên để chọn mua đèn. Đèn dành cho hồ cây thủy sinh thì yêu cầu phải theo chiều dài của đèn. Ngoài ra phải yêu cầu mức watt cho mỗi lít hay mức watt cho từng gallon, là xu hướng trong qui định về số lượng đèn cần cho việc nuôi trồng cây thủy sinh. ngườì nuôi có kinh nghiệm lâu năm cũng có thể quyết định lựa chọn số lượng đèn hay mức watt phù hợp cho hồ cây thủy sinh.

2. Lumen Output

Lumen output là mức năng lượng hay độ sáng phát ra từ đèn mà mắt người có thể nhìn thấy được trong một khoảng thời gian nào đó. Vì Lumen nói lên mức phát sáng của đèn vì thế từ Lumen ta cũng có thể tính được hiệu suất của đèn Neon bằng công thức: Hiệu suất = Lumen/Watt.

3. Lux

Lux là mức năng lượng nói về độ sáng mà mắt người có thể nhìn thấy được. Ánh sáng này khi phát ra sẽ tác động vào vật chất rồi phản chiếu lại vào mắt người. Mức này ít hay nhiều là phụ thuộc vào mức Lumen của phần giữa ống đèn và vật liệu (đối với hồ cây thủy sinh là nước). Việc sử dụng vật phản chiếu(reflector) giúp phản chiếu lại ánh sáng.
 

4. Nhiệt độ màu của ánh sáng (Color temperature)

Nhiệt độ màu của ánh sáng là mức độ cho biết màu của ánh sáng từ nguồn, là độ tiêu chuẩn sinh ra từ Perfect electromagnetic radiator “Black Body” tạo ra độ nóng làm nhiệt độ tăng lên từ từ. Khi năng lượng đạt đến một mức nào đó, vật chất bắt đầu phát sáng thành nhiều màu khác nhau mà mắt ngườì có thể nhìn thấy đuợc. Khi nhiệt độ còn ở mức thấp thì ánh sáng sẽ có màu đỏ. Nhiệt độ tăng lên dần dần, sau cùng thì ánh sáng sẽ có màu xanh dương. Đơn vị đo nhiệt độ được dùng theo Kelvin. Ánh sáng mặt trời có nhiệt độ màu khoảng 5500 K. Còn bóng dây tóc có nhiệt độ màu 2700 K cho ánh sáng màu cam.

Thông thường người ta dùng đèn có độ chiếu sáng từ 5000k đến 10.000k. Tuy nhiên nhu cầu của cây để quang hợp chỉ cần mức giao động từ 5000k đến 8000k, vì thế việc lựa chọn loại đèn chiếu sáng cho cây thủy sinh dựa theo độ K cũng sẽ giúp một phần rất lớn.

Những cách tính lượng ánh sáng cho hồ thủy sinh:

1. Cách tính lượng ánh sáng truyền thống là theo watt / lit hồ

Nhưng đây là dành cho bóng đèn t8. Lượng ánh sáng vừa đủ để cho hầu hết các cây thuỷ sinh là 0.5 wat / lít. Vậy tính ra hồ 1m2 50 50 (250-300 lít) chỉ cần 3 bóng t8 (40w x 3 = 120 wat) là đủ để tcn, tccb hay tcnt bò, tuy hơi chậm. Nếu tính ra t5ho như của odysea thì chỉ cần 2 bóng là quá đủ. Anh em đọc đến đây sẽ cảm thấy hơi vô lý vì thường anh em dùng ít nhất 2 máng (4 bóng) hay thậm chí 3,4 máng t5. Tất nhiên càng nhiều đèn thì cây sẽ phát triển nhanh và lên màu tốt hơn, nhưng nhiều đèn thì phải cung cấp thêm dinh dưỡng, co2 và bảo dưỡng vệ sinh hồ nhiều hơn, rêu hại cũng dễ bùng phát hơn.

Đối với Led thì chúng ta không thể áp dụng wat / lít được, mà phải dùng lumen / lít sẽ chính xác tương đối. (Lumen và lux là gì thì các bạn google nhé, cũng rất dễ hiểu). Thường thì 20lumen / 1 lít nước sẽ tương đương với 0.5 wat / lit đối với đèn huỳnh quang. Để biết Led mình dùng có tổng cộng bao nhiêu lumen thì các bạn xem thông tin trên máng đèn hoặc từ nhà sản xuất.

Về đèn metal và các loại ít thông dụng khác mình xin đề cập sau.

Tuy nhiên khi dùng cách tính lumen hay wat / lít cũng có nhiều thiếu sót. Ví dụ bạn dùng 300 wat t5 cho hồ 300 lit nước, nhưng hồ bạn có độ sâu lên đến 80 90cm thì lượng đèn chiếu xuống nền sẽ rất yếu, hoặc bạn treo cao đèn 30 cm với mặt nước thì sẽ khác với khi bạn gác đèn sát mặt hồ, chưa kể cách bố trí đèn nhiều ở hậu cảnh, nhưng tiền cảnh lại thiếu, rồi bóng đèn bị đen đầu hoặc phản quang kém… đọc đến đây các bạn sẽ thấy cách tính đèn bằng Wat / lít là chưa chính xác. Có 1 cách tính đèn chuẩn hơn là đo PAR.

2. Cách tính lượng ánh sáng theo PAR

PAR (Photosynethically Active Radiation) tạm dịch là bức xạ ánh sáng quang hợp, nói rõ hơn đây là lượng ánh sáng mà cây nó có thể dùng để tạo năng lượng. Đây là cách đo chính xác nhất về ánh sáng thủy sinh.

1 PAR nghĩa là 1 triệu photon ánh sáng chiếu vào 1 mét vuông trong 1 giây, viết tắt là micromols. Nói đơn giản như sau, nếu đo PAR ở phân nền của hồ bạn đạt:

– 15 đến 30 micromol (PAR) thì hồ bạn thuộc loại ánh sáng yếu, không cần thiết dùng co2 và châm dinh dưỡng, đa số rêu, dương xỉ, nana, và cây cắt cắm dễ trồng sẽ phát triển tốt trong điều kiện ánh sáng này

– 35 đến 50 micromols: hồ bạn có ánh sáng vừa, đa số cây thủy sinh sống tốt với lượng ánh sáng này, kể cả những cây thảm tiền cảnh như Trân Châu Cuba, Trân Châu Ngọc Trai, Trân Châu Nhật, ngưu mao chiên…. Tuy nhiên bạn cũng cần 1 lượng co2 vừa đến cao để cây khỏe và tránh rêu hại

– 55-75 micromols, hồ bạn được coi là high light – ánh sáng cao. Đa số cây thủy sinh sống tốt và phát triển nhanh trong điều kiện này, bổ xung khí co2 và dinh dưỡng là điều cực kì cần thiết để tránh rêu hại.

– Trên 75 PAR: hồ bạn có lượng ánh sáng cực cao, rêu ráy, dương xỉ, nana không nên trồng trong hồ par trên 100. Cung cấp khí co2 dồi dào, dinh dưỡng nhiều là điều kiện sống còn trong những hồ này. Điểm mạnh của hồ này là những cây cắt cắm có thể lên màu đẹp nhất và phát triển nhanh nhất.

PAR bị ảnh hưởng bởi loại bóng đèn, phản quang của bóng đèn và cả Ballast nên các bạn mua đèn thanh lý nhớ để ý cái bóng đèn và miếng phản quang nhé.

Để đo được PAR, trước khi dụng cụ đo rất mắc tiền, lên đến hơn 100 triệu, hiện nay các PAR meter đã được bán rộng rãi và rẻ hơn (cỡ 6-10 triệu), nhưng vẫn quá cao với anh em chơi thủy sinh ở VN. Những dụng cụ này dùng rất dễ và đơn giản, chỉ cần bật máy, cho đầu đo vào phân nền rồi đọc chỉ số PAR.
Cũng may là có 1 cách đo MIỄN PHÍ, dễ dàng và độ chính xác cũng tạm chấp nhận được là dùng trang web:

http://rotalabutterfly.com/light-calculator.php

Các bạn vào link trên và làm theo hướng dấn sau:
Tank depth: chiều rộng của hồ, nhớ chuyển qua cm
Tank length: chiều dài của hồ
Tank height: chiều cao của hồ
Light Distance: cm từ mặt nước đến bóng đèn
Subtrate depth: độ dày của nền
Bulb type: các bạn chọn loại đèn của mình, chuẩn nhất vẫn là t8 và t5ho
Bulbs: số bóng
Watt per bulb: số watt mỗi bóng
Lum/ watt: số lumen trên mỗi wat, không điền cũng được
Reflector: thông tin tấm phản quang của máng đèn, nếu không có phản quang bạn chọn NONE, nếu tấm phản quang còn mới như đèn odysea các bạn chọn FAIR, cũ thì Poor. Chỉ chọn Good khi dùng những máng led cực xịn.
Sau khi điền đầy thông tin các bạn ấn nút CALCULATE và sẽ được kết quả PAR như hình
Tuy nhiên, tính ánh sáng dựa theo PAR cũng không hoàn hảo. Điểm yếu của cách đo này là người chơi sẽ không biết được rõ loại quang phổ nào đang được dùng.
 

Tham khảo ánh sáng cho hồ thủy sinh

1. Ánh sáng

Trước khi đi sâu hơn vào ánh sáng cho bể thủy sinh. Chúng ta điểm lại vài điều về ánh sáng tự nhiên gọi là ánh sáng trắng, phần mà thị giác chúng ta thấy được trong các tần quang phổ của ánh sáng mặt trời. Những bước sóng này nằm trong khoảng từ 390 – 760nm (nanometer), bị giới hạn từ infrared trở lên và ultraviolet trở xuống. Cho ánh sáng đi qua một lăng kính,sẽ tạo thành nhiều màu sắc khác nhau như hiện tượng cầu vồng chuyển dần từ tím, xanh dương, xanh lá cây, vàng, cam và đỏ đậm. Vào những buổi hoàng hôn và bình minh, chúng ta thấy ánh sáng đậm màu hơn, đỏ hơn ánh sáng trắng trong ngày, trong vật lý được gọi là nhiệt độ màu của ánh sáng(?), tính bằng Kelvin (K). Độ đậm của màu sắc ánh sáng càng cao, nhiệt độ màu ánh sáng càng giảm, độ đậm ánh sáng càng giảm, nhiệt độ ánh sáng càng cao. Giao động trong ngày từ 2500K (bình minh, hoàng hôn) đến 8000K (buổi trưa).

Màu sắc quang cảnh chung quanh ta trong điều kiện tự nhiên được chiếu bởi các tần quang phổ đầy đủ từ mặt trời, không bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ màu ánh sáng. Ngược lại, trong bể thủy sinh dưới ánh sáng nhân tạo với những kẽ hở trong đoạn giao thoa giữa những tần quang phổ, đôi khi chúng ta nhìn thấy cây và cá như những khúc củi (ví dụ dưới ánh sáng của đèn HQL).

2. Ánh sáng cho thực vật thủy sinh

Trong rất nhiều cuốn sách khoa học về sinh, thực vật học, người ta thấy màu xanh của lá, tạo bởi diệp lục tố chỉ hấp thụ 2 tầng quang phổ, xanh dương và đỏ cam. Từ đó nẩy sinh ra quan niệm,cây cỏ chỉ cần 2 màu này cho sự tăng trưởng, dẫn đến tình trạng rất nhiều bóng cho bể thủy sinh rất nặng về màu xanh dương và đỏ. Lợi thế của loại bóng này lại là điều kiện tốt cho những vị khách không mời mà đến : rêu hại . Người ta quên rằng, ngoài diệp lục tố, cây cối còn có cả một hệ thống quang hợp với những sắc tố phức tạp nhằm sử dụng hiệu quả toàn bộ những tầng quang phổ khác của mặt trời cho sự tăng trưởng của mình. Cạnh đó còn có sự tham gia của nhiệt độ màu,từ 3500-4000K,như trung bình ánh sáng ban ngày. Một quy luật tự nhiên là khi ánh sáng cho hồ thủy sinh quá đỏ, cây sẽ dài, khi quá xanh, cây sẽ ngắn hơn bình thường.

3.  Ánh sáng cho rêu thủy sinh

Rêu hại thủy sinh: vị khách không mời mà cứ thích tới, lại là thủ phạm số 1 của sự phá hoại thẩm mỹ trong hồ thủy sinh! Hàng sa số những lời khuyên, hướng dẫn đủ loại về vấn đề này. Đại loại như tránh xa ánh sáng mặt trời, sử dụng bóng đèn chống rêu… Những ai từng thử nghiệm với nhiều loại ánh sáng khác nhau chắc hẳn đã thấy được kinh nghiệm đau thương, cây thủy sinh cần rất nhiều thời gian để thích nghi với ánh sáng mới, nhiều cây thậm chí không kịp và chết rụi đi. Trong khoảng thời gian đó, người chiến thắng là rêu chứ không ai khác.

 

Rêu, loài thực vật cấp thấp, có quá trình quang hợp giống như cây thủy sinh,thực vật cấp cao hơn, với nhiều hệ thống sắc tố liên quan để sử dụng những tần quang phổ ánh sáng, tất nhiên hệ thống này đơn giản hơn hệ thống sắc tố phức tạp của thực vật cấp cao, do đó thích ứng với ánh sáng mới dễ dàng và nhanh hơn cây thủy sinh rất nhiều. Khi hồ thủy sinh sử dụng đèn ống triband,HQL với nhiều khoảng thiếu quang phổ, bị chiếu sáng bởi ánh sáng mặt trời, lập tức rong sẽ gặp khó khăn để thích ứng,rêu nhanh chân hơn và…nhẩy nhót đầy hồ. Ngược lại khi hồ thủy sinh được sử dụng những loại đèn với quang phổ đầy đủ :fullspecktrum, HQI..v.v.sẽ thích nghi ngay khi ánh sáng mặt trời chiếu vào, không cho nồng độ phosphat, nitrat tăng cao tạo sự có mặt ồ ạt của rêu.

Rêu kiểng thủy sinh: Tuy nhiên có nhiều hồ thủy sinh lại trồng một vài loại rêu kiểng để tạo cảnh, với những loại rêu này thì nhu cầu ánh sáng của chúng thấp chỉ bằng khoảng 1/2 so với nhu cầu ánh sáng của cây thủy sinh. Nếu ánh sáng cao sẽ làm cho rêu kiểng bị cháy đen và sớm lụi tàn.

Vì thế ánh sáng cho hồ thủy sinh vừa trồng cây vừa trồng rêu là vấn đề khó.

4. Sự phản xạ ánh sáng

Màu của lá cây cung cấp một bằng chứng quan trọng về nhu cầu chiếu sáng của chúng. Hầu hết cây cối đều có các cấp độ xanh lục khác nhau, nhưng nhiều cây cũng tạo ra lá nâu và đỏ. Màu của một vật thể được tạo ra bởi ánh sáng phản xạ từ chính nó (nghĩa là không bị hấp thu). Từ đó chúng ta có thể xác định được những bước sóng nào được cây sử dụng và mức độ hiệu quả của sự quang hợp ở chúng dựa trên màu của lá cây.

Lá cây màu xanh lục nhạt. Bởi vì màu trắng là tổng hợp của rất nhiều màu, màu sáng hơn cho thấy rằng có ít ánh sáng được hấp thu trên toàn bộ quang phổ (tức phản xạ nhiều hơn). Cây có lá màu xanh lục nhạt dường như không quang hợp một cách có hiệu quả và thiếu chất diệp lục tố. Cây màu xanh lục nhạt cần chiếu sáng mạnh để bù đắp cho việc thiếu chất diệp lục tố bên trong các tế bào.

Lá cây màu xanh lục sậm. Lá cây màu xanh lục sậm là dấu hiệu cho thấy cây hấp thu ít ánh sáng xanh lục hơn so với những vùng khác trong quang phổ. Lá cây xanh lục sậm thích nghi với điều kiện chiếu sáng yếu và không đòi hỏi chiếu sáng mạnh. Khi cây xanh lục sậm ra lá mới, chúng thường nhạt hơn rất nhiều, bởi vì lượng diệp lục tố vẫn chưa phát triển bằng với lá cây trưởng thành. 

Lá đỏ. Vùng đỏ trong phổ ánh sáng thường là nơi mà quá trình quang hợp diễn ra mạnh nhất, mặc dù ở cây lá đỏ, ánh sáng này bị phản xạ và không được hấp thu. Sự thay đổi màu sắc dựa trên một yếu tố rằng cây sử dụng diệp hồng tố, loại sắc tố kém hiệu quả hơn so với diệp lục tố, để hấp thu năng lượng ánh sáng. Bù đắp cho việc thiếu ánh sáng đỏ, cây phải hấp thu nhiều ánh sáng xanh dương và xanh lục hơn và do đó cần được chiếu sáng mạnh hơn. Một số cây có thể thay đổi loại sắc tố sử dụng để quang hợp tùy vào điều kiện chiếu sáng. Trong trường hợp đó, cây lá đỏ sẽ chuyển thành xanh lục nếu lượng chiếu sáng không đủ, và một số lá xanh lục sẽ chuyển thành màu đỏ ở phần ngọn (tức nơi gần với nguồn sáng hơn) hay trong điều kiện lượng chiếu sáng tổng thể mạnh hơn.

5. Ánh sáng tự nhiên

Cây thủy sinh hiện diện trong mọi thủy vực, mà chủ yếu là các hệ thống sông ngòi. Tùy theo vị trí địa lý, mùa màng và những điều kiện khác nhau mà ánh sáng cung cấp cho cây thủy sinh khác nhau. Như ở gần thượng nguồn, môi trường hai bên bờ thường trống trải và ít cây cối, vì vậy ánh sáng luôn dồi dào vào mọi thời điểm trong ngày. Tình trạng cũng tương tự ở hạ lưu của con sông, nơi thường là vùng đồng bằng. Tuy nhiên, nhiều con sông miền nhiệt đới lại chảy qua những vùng cây cối rậm rạp và một phần đáng kể ánh sáng mặt trời bị cành cây và bụi rậm che khuất. Vì thế cây thủy sinh thường được phát hiện gần bờ các con sông cỡ vừa và lớn, nơi mực nước cạn hơn và cây thủy sinh thu được ánh sáng dễ dàng hơn.

Ngoài ra có một số loài cây có thể vươn ra mặt nước và hình thành lá cạn chẳng hạn như rong lá trầu Echinodorus spp để dễ dàng hấp thụ ánh sáng và CO2. Điểm thuận lợi của việc ra lá bên trên mặt nước là có khả năng quang hợp nhanh hơn và hấp thu CO2 dễ dàng hơn. Lá bên trên mặt nước cũng cung cấp bóng mát cần thiết cho những cây thủy sinh yếu hơn.

Thời lượng cung cấp ánh sáng cho hồ thủy sinh

Hầu hết các môi trường tự nhiên thường có thời lượng chiếu sáng khoảng 12h một ngày. Điều quan trọng là đảm bảo cây thủy sinh nhận được ánh sáng đều đặn trong khoảng thời gian nhất định. Cách tốt nhất là nên dùng thiết bị hổ trợ hẹn giờ (timer) tự động bật tắt trong 8-12 giờ/ngày. Với hồ lắp nhiều bóng thì bạn cũng nên áp dụng phương pháp giảm ánh sáng từ từ bằng cách tắt dần các bóng với khoảng thời gian từ 5-15 phút để cho cây thủy sinh và cá đỡ bị sốc do thay đổi đột ngột. Điều quan trọng là cây thủy sinh cũng cần khoảng thời gian tắt đèn hoàn toàn. Trong thời gian này, cây ngừng quang hợp và bắt đầu hô hấp, vì vậy giai đoạn tắt đèn là giai đoạn “nghỉ ngơi” đối với các chức năng sinh học của cây.

1. Áp dụng giờ nghỉ trưa cho hồ thủy sinh

Cây có khả năng duy trì mức độ quang hợp một cách tương đối dễ dàng, và nhanh chóng đáp ứng với mọi biến đổi về điều kiện chiếu sáng. Nói một cách khác, chúng không mất nhiều thời gian để khởi động và bắt đầu quang hợp một khi được chiếu sáng đầy đủ. Tuy nhiên, tảo không có lợi thế sinh học như cây thủy sinh và cần thời gian dài cũng như tương đối liên tục để tăng trưởng một cách hiệu quả. Tảo hoàn toàn có khả năng bị loại trừ khỏi hồ thủy sinh bằng cách khống chế cường độ và thời lượng chiếu sáng và áp dụng giờ “nghỉ trưa”. Đây là giai đoạn tắt đèn xen vào giữa chu kỳ thông thường ngày/đêm của hồ thủy sinh. Nếu hồ được chiếu sáng 5-6 giờ, sau đó nghỉ 2-3 giờ và rồi lại chiếu sáng 5-6 giờ nữa thì cây sẽ không bị ảnh hưởng gì và vẫn nhận đầy đủ ánh sáng cho cả một ngày, nhưng mức độ tăng trưởng của tảo sẽ bị suy giảm đáng kể và thậm chí bắt đầu chết dần mòn.Đây là một phương pháp diệt rêu hại hiệu quả cho hồ thủy sinh với ánh sáng.

2. Giảm bớt suy hao ánh sáng hồ thủy sinh

Có rất nhiều nguyên nhân làm giảm chất lượng ánh sáng cho hồ thủy sinh. Tiêu biểu như nước hồ dơ, cặn bả bám lên lá cây, bóng đèn tuýp để sau 6 tháng cũng giảm tuổi thọ, miếng bảo vệ ở các máng đèn cũng góp phần không nhỏ khi bị bám bụi qua thời gian. Vì vậy việc chăm sóc hồ cá và điều chỉnh ánh sáng ở mức ổn định sẽ giúp hồ thủy sinh phát triển tốt nhất.

Ngoài ra bạn có thể dùng miếng phản xạ ánh sáng để tăng cường lượng sáng bị tiêu hao tới 40% khi áp dụng đèn dạng óng tuýp huỳnh quang.

Lựa chọn nguồn cung cấp ánh sáng cho hồ thủy sinh hiện nay

Việc lựa chọn nguồn cung cấp ánh sáng cho hồ thủy sinh khá quan trọng. Dù biết rằng có những loại đèn giá thành thấp giống như đèn dây tóc nhưng cường độ ánh sáng kém lại nhiều nhiệt chỉ phù hợp cho gia đình. Trong khi đó đèn huỳnh quang ống tuýp chuyên dụng như T5 , T8 hay Jebo 10.000k lại có giá thành cao hơn lại phù hợp cho hồ thủy sinh từ cở nhỏ đến lớn. Ngoài ra hiện nay xuất hiện nhiều đèn LED chuyên dụng cho hồ thủy sinh nhưng giá thành tương đối cao. Vì vậy việc chọn lựa nguồn cung cấp ánh sáng cho hồ thủy sinh tùy thuộc vào 4 yếu tố cần cân nhắc :

– Mức độ hiệu quả (cường độ chiếu sáng trên công suất điện tiêu thụ)
– Cường độ/công suất chiếu sáng
– Giá cả
– Phổ ánh sáng

1. Những loại đèn cung cấp ánh sáng cho hồ thủy sinh thông dụng hiện nay:

– Bóng neon: hiện nay thông dụng là bóng T8, một số bạn đang chuyển qua bóng T5 (T5; T8 là đường kính trong của bóng đèn) 
– Metal: thường dùng cho những vùng khí hậu lạnh (vì nhiệt tỏa ra cao làm nóng nước hồ), bù lại dùng bóng Metal sẽ có độ xuyến thấu cao, nhìn hồ lung linh và giúp cho những cây thủy sinh trồng trong hồ có chiều sâu nhận được ánh sáng. Thêm một điều hạn chế của bóng Metal là chúng tiêu thụ điện năng nhiều.
– Bóng LED: còn khá mới mẻ trong giới thủy sinh tuy nhiên lại mang nhiều ưu điểm vượt trội hơn nhiều so với những loại khác
– Ngoài ra còn bóng halogen …. nhưng ít được sử dụng.

2. Những hiệu đèn cung cấp ánh sáng cho hồ thủy sinh thông dụng tại Việt Nam:

– Jebo: thường là bóng neon rất quen thuộc với các bạn chơi thủy sinh, giá phải chăng và hiệu quả cao.
– Osram: hiện nay ít người còn sử dụng hiệu này
– Nec: tốt cho cây màu đỏ
– Sobo: hiện nay các tiệm thủy sinh bán khá nhiều nhãn hiệu này.
– Tiết kiệm thì có bóng Việt Nam: Philip
– Bóng T5 , T8
– LED : một loại khá mới mẻ ở thị trường Việt Nam, nhưng lại có nhiều ưu điểm như : tiết kiệm điện, mát nước, màu sắc đẹp.

3. Dùng ánh sáng mặt trời cung cấp cho hồ thủy sinh

Thoạt nhìn, việc sử dụng ánh sáng tự nhiên cho hồ thủy sinh có vẻ là một giải pháp lý tưởng, vì tất cả mọi thực vật đều từ tự nhiên và chúng dễ thích nghi hơn. Tuy nhiên, có một số bất lợi và nói chung, bạn nên tránh chiếu sáng trực tiếp trừ phi bạn có rất nhiều kinh nghiệm và muốn thử nghiệm đôi chút. Ánh sáng mặt trời sẽ thay đổi tùy theo thời gian của năm, việc bổ sung ánh sáng mặt trời cho hồ thủy sinh sẽ khó lòng canh mức độ chiếu sáng cho chuẩn. Ánh sáng được cung cấp sẽ quá nhiều hoặc quá thấp, và đó cũng là một trong những nguyên nhân làm rêu hại phát triển mạnh. Vì thế nếu phải không phải là trại nhân giống cây thủy sinh hoặc người có tay nghề cao thì nên tránh dùng ánh sáng mặt trời cung cấp cho hồ thủy sinh.Thông Tin Thêm

1. Đèn “full quang phổ” (full spectrum) là gì?

Full quang phổ là ánh sáng giống ánh sáng mặt trời, nó bao gồm 7 dãy màu cơ bản như đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm và tím, đây là những màu mắt người thấy được, thật ra full quang phổ bao gồm hàng triệu màu tác sắc khác nhau, Chúng ta chỉ quan tâm xạ nhiệt từ 300 đến 800 nm (mắt người nhìn được từ bức xạ 380 đên 700nm)
Các bạn cần nhớ thông tin QUAN TRỌNG: Cây thủy sinh dùng chủ yếu bức xạ 400 đến 500 nm, và từ 600 đến 700 nm. Dưới 300-400 nm và 500-600nm không quá quan trọng với cây. Vậy khi chế đèn LED hoặc mua bóng t5, các bạn hãy chịu khó nhìn vào cái biểu đồ bức xạ nhiệt này để chọn cho đúng nhé. Ví dụ như hình số 1, là bóng t5 của jbl solar tropic, bức xạ nhiệt từ 400-500 và 600-700 rất cao, rất phù hợp với cây thủy sinh. Những bóng không có thông tin này thì rất hên xui.
Tương tự, khi chọn LED thì bạn hãy chọn những bóng RGB có bước sóng như trên, ví dụ:
LED chuyên chơi Hà Lan: dãy led 30cm gồm: (10bóng) 5700K Cool White, (2bóng) 470nm Blue, (1bóng) 450nm Royal Blue, (1bóng) 525nm Green, (1bóng) 660nm Deep red
LED Chuyên chơi ánh sáng trắng 10k: (10bóng) 5700K Cool White, (3) 660nm Deep Red, (2) 450nm Royal Blue
LED chuyên chơi cây với ánh sáng 6500k: : (10bóng ) 5000K Cool White, (2) 450nm Royal Blue, (1) 470nm Blue, (1) 590nm Amber, (1) 625nm Red
Về cách sắp xếp hay thông tin chi tiết hơn thì các bạn hỏi mấy pro chuyên chế LED nhé.

2. Độ sáng Kelvin là gì?

Nhiệt độ màu được chia thành nhiều nấc thang để đo lường (đơn vị K – Kelvin) đi từ thấp tới cao được biểu hiện bởi màu tương đương: từ đỏ tới xanh (độ K cao dần), gồm 9 cấp độ sau: (các bạn xem hình 2 nhé)

Nhiệt độ màu sẽ khác với bức xạ màu ở mục 2, nhưng cũng có sự quan hệ mật thiết với nhau, ví dụ ánh sáng 6500 là ánh sáng trắng và nó đã bao gồm nhiều bức xạ màu từ 300 đến 700nm, nhưng ánh sáng 4100k hay 2700k lại có nhiều bức xạ màu nóng như đỏ, tím hơn, và sẽ tốt cho cây quang hợp hơn, làm 1 số cây màu lên màu đẹp hơn…
Vậy nên quan niệm của nhiều anh em là cứ phải chơi bóng t5 10000k mới tốt, hay 6500k cho cây màu đỏ là cũng chưa thật sự chính xác 100%. Theo kinh nghiệm của nhiều pro, 1 combo 4 bóng t5 tốt nhất có thể là:

1 bóng 2700k (vàng)
1 bóng 6500k (trắng)
1 bóng hồng
1 bóng 10000k

Hoặc:
2 bóng 6500k, 1 bóng 2700k, 1 bóng hồng
Hoặc:
2 bóng 6500k, 2 bóng hồng
Các bạn xem hình mix màu 3 nhé.

Tuy nhiên nếu bạn chơi rêu, dx, phong cách natural, awagumi… thì bạn không quá quan tâm đến ánh sáng 2700k, bóng hồng hay 6500k làm gì, chỉ cần full 10000k hay 12000k là được rồi.

3. Cri là gì?

Độ render màu – color rendering index, là chỉ số cho thấy màu, độ thật của vật được bóng đèn chiếu vào có giống với ánh sáng mặt trời chiếu vào vật đó bao nhiêu %, cri cao nhất là 99, thường bóng t5 hay t8 sẽ được kí hiệu như sau:
865 – nghĩa là độ render màu là 80-89, độ màu là 6500k
990 – nghĩa là độ render màu 90-99, độ màu là 9000k
Các bạn mua 1 bóng đèn huỳnh quang t8 hay t5 của Philips, điện quang sẽ thấy thông số trên bóng là 765, tức là độ render màu là 70 đến 79, và độ màu là 6500k
Các bóng jebo t8, odysea, triple H, aquaznic thường có độ render màu 80
Khi độ render màu lên đến 90-99 thì giá thành của nó cực mắc, mắc hơn bóng render 80 đến nhiều lần. Ví dụ bóng t8 jebo là 50 ngàn thì bóng t8 jbl cri 990 là 500 ngàn.
Các bạn chơi thủy sinh chỉ cần độ render 80-89 là đủ, còn ai khó tính hoặc chuyên chơi cây lên màu đẹp thì nên dùng cri 90-99
Về LED, điểm yếu của nó là có CRI thường thấp hơn đèn huỳnh quang, thường là chỉ ở 60-69 hay 70-79, những bóng LED có cri trên 90 thường rất mắc tiền. Tuy nhiên nhiều cao thủ chơi LED thành công cũng chỉ dùng bóng cri cỡ 78 là đủ. Mình cảm thấy CRI ở LED không quá quan trọng như cri của đèn huỳnh quang.

4. Nên chọn LED hay huỳnh quang t5, t8?

Cho đến bây giờ mỗi loại đèn đều có ưu nhược điểm riêng, ví dụ đèn T5 thì ổn định, ánh sáng ra thật, nếu mix nhiều đèn đúng thì hiệu quả rất cao, tuy nhiên điểm yếu của T5 là không thể chọn và mix nhiều bước sóng màu vào 1 máng như LED được.
Về LED, ánh sáng lạnh, tiết kiệm điện và có thể chọn bóng, chọn mix sóng màu theo ý thích là 1 điểm lợi thế lớn, tuy nhiên điểm yếu của LED là giá thành cực cao nếu chọn đúng bóng tốt.
Tùy vào túi tiền, sở thích và mục đích mà các bạn có thể chọn lựa LED hay đèn huỳnh quang, riêng cá nhân mình rất thích t8, t5, nhưng cũng cực mê LED của buildmyled (BLM) hoặc twinstar s series.

Các lưu ý chính về ánh sáng cho cây thủy sinh

  1. – Tùy loài cây thủy sinh có nhu cầu ánh sáng khác nhau mà chọn việc cung cấp khác nhau. Việc không nắm rõ nhu cầu ánh sáng của cây thủy sinh dễ làm cho hồ của bạn gặp rắc rối về dư hoặc thiếu ánh sáng. Và hồ thủy sinh sẽ không phát triển tốt như mong muốn. Vì thế hãy chọn lựa cây phù hợp có mực độ ánh sáng gần tương đồng để dễ trồng.
  2. – Cung cấp ánh sáng cho hồ thủy sinh phải ổn định giờ giấc và đừng quá 12 tiếng.
  3. – Áp dụng thời gian nghĩ trưa để ngăn chặn rêu hại trong hồ thủy sinh
  4. – Nếu cung cấp ánh sáng thiếu thì cũng đừng kéo dài thời gian chiếu sáng trong hồ, nó sẽ gây ra rêu hại nhanh chóng.
  5. – Kiểm tra các thiết bị chiếu sáng định kỳ để đảm bảo nguồn cung cấp ánh sáng cho hồ thủy sinh ổn định
  6. – Tránh ánh nắng trực tiếp của mặt trời, một trong những tác nhân gây rêu hại phát triển nhanh chóng.

0 ( 0 bình chọn )

Bài viết liên quan

Bài viết mới

Xem thêm